LAVOADIÊ-nhà hoá học vĩ đại Pháp

Thảo luận trong 'CHÂN DUNG NHÀ HÓA HỌC' bắt đầu bởi gold sun, 18 Tháng tám 2007.

  1. gold sun Guest

    Antoine Laurentde Lavoisier( ăngtoan-lorăng-lavoadie)(1743-1794): Là nhà hoá học vĩ đại Pháp, 17 tuổi ông đã từng theo nhà khoáng vật Kâyta vào núi vẽ bản đồ, từ đó ông mê luôn hoá học. Lúc đó "Thuyết nhiên tố" đang thống trị châu Âu hàng trăm năm (đây là học thuyết hết sức sai lầm về sự cháy ở thế kỉ 18). Năm 1777, ông thông qua một báo cáo nghiên cứu có tựa đề là "Khái niệm về sự cháy", đã vạch trần những sai lầm của "thuyết nhiên tố", ông đã chứng minh sự cháy chỉ là một loại tác dụng ôxy hoá sinh ra từ vật chất với khí ôxy. Ông lần đầu tiên đặt tên cho "Hyđrô", là người đầu tiên dùng phương trình hoá học để ghi lại quá trình phản ứng hóa học. Năm 1789 "Giáo trình cơ bản về hoá học" nổi tiếng của ông đã hoàn thành cuộc cách mạng hoá học, thay đổi triệt để hướng đi của cách mạng hoá học.


    THIẾU CHÚT NỮA TRỞ THÀNH LUẬT SƯ
    Lavoadiê sinh ra từ trong một gia đình luật sư ở Pari nước Pháp. Cha ông là người làm về luật nhưng lại có rất nhiều bạn bè là nhà khoa học, họ là những người mà khi Lavoadiê còn nhỏ rất hâm mộ. Chỉ cần bạn bè là những nhà khoa học của cha đến nhà là Lavoadiê tích cực giúp mẹ bê trà. Khi mọi người nói chuyện, cậu Lavoadiê nhỏ ngồi bên cạnh vểnh tai nghe. Lavoadiê dần dần mê khoa học, lúc nhỏ đã tự học thiên văn học, toán học, hoá học, địa chất học và thực vật học.

    Có một lần nhân dịp nghỉ hè, cậu Lavoadiê nhỏ theo ông Kâyta nhà nghiên cứu khoáng vật nổi tiếng bạnn của cha vào rừng cùng ông vẽ bản đồ địa chất. Ở đó Lavoadiêđã học được rất nhiều kiến thức về khoáng vật lý thú.

    Chẳng mấy chốc đã tốt nghiệp trung học, Lavoadiê vào đại học Luật theo ý nguyện của cha, với người yêu thích khoa học ông đây là việc làm chẳng mấy thú vị.

    Vì thích hoá học nên khi ở Đại học, Lavoadiê một mặt học luật, mặt khác ông dành thời gian đi nghe bài của một nhà hoá học nổi tiếng. Ngoài việc đi nghe bài ra, chàng sinh viên Lavoadiê còn đến thư viện đọc rất nhiều sách về hoá học.

    Lavoadiê đã từng nói với bạn học: “đối với tôi học pháp luật là nhiệm vụ, còn học hoá là hứng thú."

    Ngoài hứng thú ra, còn một nguyên nhân nữa đó là: Khi kiến thức hoá học của ông học được nhiều lên, ông cảm thấy sâu sắc rằng trong lĩnh vực hoá học còn rất nhiều điều đang đợi mọi người đi sâu tìm hiểu và giải quyết.

    Lavoadiê tốt nghiệp đại học, ông có được chứng nhận học vị luật và cả giấy phép hành nghề luật sư. Mẹ ông rất vui đặc biệt là ông bố, vì con trai sẽ kế thừa sự nghiệp của ông.

    Năm đó Lavoadiê mới 20 tuổi, khi ngồi trong phòng luật sư nổi tiếng của cha mình ông vẫn ko biết tại sao mình lại ngồi đây? Ông ko có một chút hứng thú nào với công việc này. Ông thường ngồi lặng lẽ nhìn ra cửa sổ như người mất hồn.

    Cha ông thấy vậy liền hỏi: “Con làm gì thế?”

    Lavoadiê đứng dậy, mắt vẫn nhìn ra ngoài, lơ đãng trả lời: “Con nghĩ con nên rời khỏi nơi này!”

    Cha ông như ko chịu nổi: “Con nói gì? Con ngồi xuống cho bố xem nào!”

    “Con muốn rời khỏi đây!” – Ông trả lời cha một cách quả quyết, một lúc sau rời khỏi văn phòng luật sư của cha mình.

    Thế là nhân loại giảm đi một luật sư bình thường và thêm một nhà hoá học vĩ đại.


    NƯỚC CÓ BIẾN THÀNH ĐẤT ĐƯỢC KO?

    "Nước có thể biến thành đất". Một số nhà hoá học đã dùng cách gia nhiệt tức là đun nước để cuối cùng nhận được một loại cặn lắng màu trắng, học gọi đó là "đất do nước biến thành".

    Lavoadiê ko chấp nhận quan điểm này. Theo ông nước và đất là hai loại vật chất khác nhau, đất làm sao sinh ra từ trong nước được?

    Ông nghĩ: Nếu nước ko biết thành đất được thì giảt thích như thế nào về chất lắng màu trắng sau khi đun nước đây, chỉ còn cách tự tay làm thí nghiệm.

    Lavoadiê cho xác định trọng lượng của nước dùng cho thí nghiệm và trọng lượng của bìng đựng nước chưng cất làm thí nghiệm, sau đó nút chặt bình lại, gia nhiệt cho bình nước bằng cách đun nóng.

    Trong qúa trình đun nước, Lavoadiê thường xuyên quan sát xem trong bình có chất lắng mà mọi người vẫn gọi là "đất" ấy ko? Đun liên tục mấy ngày liền, nước trong bình sôi sùng sục, nhưng trong bình vẫn ko hề xuất hiện chất lắng nào.

    Lavoadiê là người làm việc ko biết chán nản, ông quyết tâm làm đến khi nước trong bình xuất hiện "đất" mới thôi.

    Lavoadiê là lạnh nước rồi cẩn thận lọc đưa sang bình lọc khác, ông nhanh chóng cho cân để xác định trọng lượng của nước sau 10 ngày đun sôi liên tục. Kết quả cho thấy nước trước và sau khi đun cơ bản ko thay đổi.

    Như vậy có thể khẳng định "Đất" ko phải được sinh ra từ nước. Lavoadiê chăm chú nhìn chất lắng màu trắng, nó sinh ra từ đâu?

    Như nghĩ ra điều gì, ông cho cân bình nước làm thí nghiệm. Kết quả cho thấy bình có nhẹ đi.

    Lavoadiê rất xúc động. Ông sắp có thể vạch trần bộ mặt thật của cái goi là "nước sinh ra đất" rồi. Ông nín thở đưa chất màu trắng lên cân. Trọng lượng của nó xác định được rồi, nó đúng bằng trọng lượng mất đi của bình đựng nước làm thí nghiệm.

    Lavoadiê đỏ bừng mặt, ông quá xúc đông. Thế là mọi việc đã rõ ràng, cái gọi là "đất sinh ra từ nước" ây ko phải được sinh ra từ nước mà nó sinh ra từ cái bình thuỷ tinh làm thí nghiệm! Chất lắng màu trắng ấy được hình thành bởi thuỷ tinh đun nóng lâu, bị xám thực mà có.

    Thần thoại "nước biến thành đất" bị lật tẩy như vậy đấy!


    CHO TÔI XIN THÊM MỘT THỜI GIAN NỮA
    Nguyên nhân Lavoadiê bị bắt vì ông đã từng là cổ đông của công ty bào thuế, tuy ông ko tự thu thuế nhưng là cổ đông đương nhiên cũng được lợi trong đó.

    Ngày 2 tháng 5 năm 1794 Chính phủ cách mạng giao Lavoadiê cho toà án cách mạng xét xử, lúc đó ko có cái goi là công minh chính đại, Lavoadiê hiểu rất rõ điều này, vợ ông và bạn bè cũng hiểu rất rõ điều này.

    Đây là vụ xét xử nực cười, ko cần bằng chứng, ko cần biện hộ, toà án rất dễ dàng xác định tội của một người. Mọi người hò hét như điên loạn: "có tội, có tội, đưa nó ra quảng trường Cách mạng, ko được chần chừ!"

    "Nhưng..." - Lavoadiê nói - "Tôi đang chờ làm một thí nghiệm về toát mồ hôi, tôi cầu xin cho tôi một chút thời gian để tôi cống hiến được thêm cho Tổ quốc một chút."

    "Đủ rồi!" - Quan toà vỗ mạnh vào bàn - "Nước Cộng hoà ko cần nhà khoa học."

    Đối diện với những con người ko còn lý trí, Lavoadiê ko cầu xin nữa. Ông bắt đầu hồi ức công việc của đời mình, ko có nhiều lời để nói với quan toà nữa.

    Ngày 8 tháng 5 năm 1794, Lavoadiê cùng bố vợ với hơn hai mươi phạm nhân khác nữa được đưa lên xe áp giải đến nơi hành hình, bắt đầu đoạn đời cuối cùng. Lavoadiê biết được mình phải chết như thế nào.

    Xe áp tải dừng tại Quảng trường Cách mạng, phạm nhân im lặng chờ đợi. Lavoadiê nhắm nghiền đôi mắt, trên mặt ông ko có biểu hiện gì. Một lúc sau, ông mở mắt, nhìn một lượt mọi người xung quanh đến xem, trong đó có quần chúng đang giận dữ mong họ sớm bị hành hình, tất nhiên trong đó có người thân và bạn bè ông đang âm thầm khóc.

    Lưỡi dao nâng lên rồi rơi xuống, giờ đến Lavoadiê và bố vợ ông. Bố vợ ko đứng vững và quá sợ, ông dựa vào người Lavoadiê. "Hãy mạnh bạo lên, đây chỉ là chuyện xảy ra trong một tích tắc để rồi ta về cõi vĩnh hằng." - Ông nói nhỏ với bố vợ.

    Lavoadiê ung dung bước lên máy chém. Chính vì vậy có một nhà khoa học đã viết ra những lời nói như sau: Chặt một cái đầu chỉ cần giây lát, nhưng hàng trăm năm sau nhân loại cũng ko sinh ra được cái đầu như vậy.

    Sau sự cuồng loạn nhất thời, người Pháp đương nhiên đã hiểu được giá trị của con người Lavoadiê, chưa đầu hai năm sau khi ông mất, Pari đã xây dựng tượng bán thân nhà khoa học vĩ đại này.
    Câu nói nổi tiếng:
    - Ko thời cải tiến bản thân khoa học, chúng ta sẽ ko thể cải tiến tiếng nói của bất kỳ khoa học nào.
    - Ko dựa vào phán đoán mà phải căn cứ vào thực tế
    nguồn dd3t
    hề....hề...các bạn còn cỏ thể mua cuốn các nhà bác học hóa học của nxb giáo dục để đọc thêm nữa...hay lắm..chi tiết hơn thế này nhiều.....^^đọc để thấy mình thật kém cỏi...đẻ thấy mình còn cần cố gắng nhiều hơn nữa nhỉ?:)
  2. Mr.Quỳnh

    Mr.Quỳnh Quản Lý Chung Staff Member Thẩm phán

    Thực nghiệm lớn của Lavoisier

    Bất kỳ ai trong chúng ra hiện nay đều hiểu rằng nước được kết hợp từ oxy va hiđro. Thế nhưng ở thế kỷ 18, người ta còn hoàn toàn chưa biết điều này. Chỉ tới năm 1785 , khi Antoine Lavoisier chứng minh bằng thực nghiệm rằng nước là một hợp chất được tạo thành từ hai loại khí: oxy và hiđro thì lịch sử hóa học có thêm một cột mốc mới.

    [​IMG]

    “Nước không phải là đơn chất[...]. Nó có khả năng phân rã cũng như tái tạo lại”. Antoine Lavoisier đã khẳng định như vậy trong bài phát biểu vào ngày 12 tháng 11 năm 1783 trước phiên họp toàn thể của Viện Hàn lâm khoa học Paris. Lời khẳng định này được đưa ra sau khi Antoine Lavoisier tiến hành các thực nghiệm rất tốn kém kéo dài trong nhiều tháng trời và nó hoàn toàn ngược lại với quan niệm của nhiều nhà hóa học thời đó khi cho rằng nước là một đơn chất. Vào tháng 4 năm 1784, Lavoisier tiếp tục đưa ra các kết quả nghiên cứu mới trước Viện Hàn lầm để khẳng định tuyên bố của mình nhưng cộng đồng khoa học lúc đó vẫn tiếp tục nghi ngờ. Không nản lòng, Lavoisier tiếp tục một đợt thực nghiệm lớn diễn ra từ ngày 27/2 cho tới 1/3/1785 trước sự chứng kiến của một hội đồng các nhà khoa học gồm các nhà hóa học lớn của Viện Hàn lâm và nhiều khách mời quan trọng.
    Các thực nghiệm này đã chứng minh được rằng nước có thể phân thành hai chất khác nhau sau đó hai chất này với cùng tỉ lệ kết hợp lại với nhau để trở thành nước như ban đầu. Nhằm mục đích khẳng định và củng cố giả thiết đưa ra ban đầu, các thực nghiệm này thực sự đã trở thành một sự kiện, một cột mốc quan trọng trong lịch sử của ngành hóa học. Chúng đã phá vỡ bức màn bao phủ về thành phần tự nhiên của nước và cung cấp các bằng chứng có tính chất quyết định cho quan niệm hóa học của Lavoisier, chống lại lý thuyết nhiên tố vốn rất thịnh hành lúc bấy giờ.

    [​IMG]
    Những thực nghiệm của Lavoisier đã chứng tỏ được rằng tổng khối lượng của các chất khí sử dụng tương
    đương với khối lượng của toàn bộ số nước thu được. “Người ta có thể áp dụng nguyên tắc này cho tất cả các hoạt động khác: luôn có một khối lượng giống nhau về chất liệu trước và sau một phản ứng hóa học và tính chất cũng như trọng lượng của các chất này là như nhau và chỉ có sự thay đổi hoặc biến đổi (tính chất) của chất được tạo thành mà thôi”, ông đã viết như vậy trong cuốn Chuyên luận cơ bản về hóa học (Traité élémentaire de chimie) vào năm 1789.
    Lúc mới bắt đầu nghiên cứu khoa học, Lavoisier quan sát các chất cháy trong không khí, thí dụ như phốt pho, lưu huỳnh, cacbon, kim loại dễ nóng chảy như chì, thiếc và ông nhận thấy khối lượng của các chất này tăng lên. Điều này chứng tỏ có một cái gì đó trong không khí đã được thêm vào chất đang cháy. Ông tiến hành các thực nghiệm theo giả thiết đó và viết kết quả vào một cuốn sách có tên Cẩm nang về vật lý và hóa học (Opuscule physiques et chimies), xuất bản năm 1774.

    “Khí cơ bản” hay oxy
    Dù vậy thì Lavoisier vẫn chưa thể xác định, nói cụ thể hơn là cô lập và đặt tên được cái chất có trong không khí thường xuất hiện trong mỗi lần cháy. Mà nó lại được Joseph Priestley, một nhà hóa học tên tuổi người Anh xác định ra vào ngày 1/8/1774 và ông này đặt tên là khí ngược nhiên tố (air déphlogistiqué). Nhiên tố, hay còn gọi là thành phần cơ bản của tính gây cháy là một nguyên lý chi phối sự cháy của các chất. Theo cách lý giải như vậy, không khí chứa một phần khí ngược nhiên tố và đa phần khí nhiên tố. Cách lý giải này dường như phù hợp với các quan niệm của các nhà hóa học lúc đó.
    Lavoisier lặp lại các thí nghiệm của Priesley nhưng áp dụng nguyên tắc bảo toàn khối lượng. Bằng việc chấp nhận về mặt chất lượng quan sát của nhà hóa học người Anh, ông nhấn mạnh tới sự không tương thích về trọng lượng mà người ta thấy rất rõ. Ông xác định phần khí tham gia vào sự cháy là phần khí lành nhất hoặc có thể hít được. Ông đặt tên nó là khí cơ bản vào năm 1775 nhưng ông vẫn thường dùng từ khí ngược nhiên tố như cách gọi thông dụng của các nhà hóa học thời bấy giờ.
    Nhưng quan niệm của Lavoisier về sự cháy là như thế nào? Theo ông, một chất khí được tạo lên từ một thành phần cơ bản (mà giờ chúng ta gọi là một nguyên tố hóa học) cùng với một chất liệu tạo cháy (matière de chaleur) mà sau này ông đặt tên là chất dinh dưỡng. Như vậy, trên nền của chất tạo cháy này, vào năm 1777, nhà hóa học đặt tên nó là oxygine, một từ có gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa là “chất tạo axit). Thực tế phải tới năm 1787, ông mới sử dụng chính thức cái tên này. Nguyên lý axit đã giúp Lavoisier tạo ra một lý thuyết về hóa học mới và suốt nửa cuối cuộc đời, ông giành thời gian để chứng minh điều này.
    Với việc tiến hành ngày càng nhiều thực nghiệm hơn, Lavoisier buộc phải cần làm việc nhóm để tiến hành các thí nghiệm trên những máy móc ngày càng phức tạp và đòi hỏi thời gian nhiều hơn. Ông hợp tác với Pierre Simon Laplace và nhà quân nhân kiêm kỹ sư Bastiste Meusnier vào đầu những năm 1780.
    Lúc này, Lavoisier đã đưa ra giả thiết rằng nước được tạo thành từ hai chất: oxy và hiđro. Sau một thực nghiệm phân tách các thành phần của nước vào năm 1784, công việc còn lại của ông là chứng minh giả thiết của mình cùng bằng thực nghiệm tương tự nhưng có thêm phần tái tạo lại nước từ chính các chất vừa phân tách được ra. Đây là một thực nghiệm lớn được tiến hành năm 1785.

    Sản xuất hiđro cho khinh khí cầu
    Nhưng tại sao Lavoisier lại có được ý tưởng này? Khí hiđro lúc đầu được đặt tên là khí dễ cháy và do nhà hóa học người Anh Henry Cavendish phát hiện ra vào năm 1766. Do có khối lượng cực nhẹ và dễ cháy, người ta đã từng cho rằng hiđro là một thiên tố thuần túy. Rất có khả năng kể từ năm 1781, Cavendish là người đầu tiên thừa nhận rằng nước là sản phẩm duy nhất của khí dễ cháy có trong khí cơ bản mà Friestley đã khẳng định vào năm 1783. Cả hai nhà bác học này giả định rằng khí dễ cháy được tạo thành từ nước và thiên tố, dù nó có là thiên tố thuần túy hay không. Chính vì vậy, họ cho rằng nước được tạo thành khi người ta kết hợp hai chất khí này lại. Vào mùa hè năm 1783, cả Gaspard Monge và Lavoisier đều nhận thấy chỉ có nước được tạo ra từ hỗn hợp của hai loại khí này.

    [​IMG]
    Trong phòng thí nghiệm, người ta tạo ra được khí hiđro từ việc kết hợp axit sulfuric với sắt hoặc kẽm. Nhưng giá của loại axit này khá đắt trong khi người ta cần tới rất nhiều khí hiđro để sử dụng các khinh khí cầu vừa được ra đời. Anh em nhà Montgolfier đã chế tạo ra một quả khinh khí cầu làm từ giấy và được bơm đầy không khí nóng để bay lên không trung Annonay vào ngày 4/6/1783, trước sự chứng kiến của quan khách Vivarais. Sau đó ít lâu, vào ngày 27/8, nhà vật lý Jacques Charles và anh em nhà Robert đã sản xuất được các khí cụ để có thể đưa khinh khí cầu hiđro bay lên không trung khu vực Champ-de-Mars. Lúc đó người ta rất hoan hỉ vì chế tạo được khinh khí cầu và các quả bóng khí cầu được sử dụng rộng rãi trong trang trí và nhà hát như là một mốt thịnh hành. Trước tình hình này, Viện Hàn lâm khoa học đã thành lập liên tiếp hai ủy ban trong đó có sự tham gia của Lavoisier. Với sự giới thiệu của Lavoisier, Meusnier cũng tham gia các ủy ban này và hai nhà khoa học đã chứng minh được rằng khi phun khí nóng vào sắt thì sẽ tạo ra được rất nhiều khí dễ cháy. Quan sát này đã khiến Lavoisier nghĩ tới việc tiến hành thực nhiệm chi tiết hơn trên nước nhằm mục đích phân tích và tổng hợp nước.
    Mục tiêu của thực nghiệm lớn chưa từng thấy này lúc đầu là phân tích thành phần của nước khi tác động với sắt-thực chất là hơi nước nóng tác động với sắt tạo ra oxit sắt và giải phóng khí hiđro. Sau đó, đốt khí hiđro trong oxy để tổng hợp nước trở lại. Khối lượng của các chất tham gia phản ứng và chất tạo thành phải tương đương với nhau trong hai thực nhiệm. Từ thực nghiệm này, Lavoisier khẳng định rằng nước không phải là một sản phẩm đơn chất.

    Biên bản sơ sài và người vô danh
    Meusnier là người được giao nhiệm vụ viết biên bản chi tiết của hai cuộc thực nghiệm nhưng vì là quân nhân, vào cùng thời điểm đó, ông nhận lệnh dẫn quân đi bảo vệ khu vực công trình cảng Cherbourg. Thời gian quá gấp gáp khiến ông không hoàn thành được biên bản hai cuộc thực nghiệm như Lavoisier mong muốn. Tuy nhiên, một bản báo cáo khác xuất hiện vào ngày 27/2/1786 trong một tạp chí khoa học mới ra đời, tờ báo Journal polytype. Biên bản này, rất có khả năng do Lavoisier viết, mở đầu bằng việc nhận định phương pháp tiến hành thực nghiệm khoa học, sau đó nhắc tới các khám phá của Cavendish, Monge và các nhà khoa học khác. Tác giả của báo cáo cũng miêu tả chi tiết việc phân tách nước, việc tiến hành đốt khí hiđro, các dụng cụ thí nghiệm, các biện pháp an toàn, các nghiên cứu tiến hành trước thực nghiệm và kết quả cũng như bình luận các kết quả này.
    Biên bản này chắc hẳn đã được đánh máy rất vội vã do vậy có rất nhiều lỗi in ấn và nó sau này được viết lại rõ ràng hơn vào năm 1892 trong quyển V của bộ sách Các tác phẩm của Lavoisier. Trong lần tái bản này, nhiều thuật ngữ như oxy, hiđro, oxy hóa... đã được sử dụng và chúng hoàn toàn khác lạ so với bản gốc. Tuy nhiên, chúng lại là tất cả những gì mà Lavoisier muốn đưa ra giúp các nhà khoa học thời đó hiểu rõ hơn về các công việc mà ông đã thực hiện.
    Chính vì vậy, rất nhiều nhà hóa học lúc đó đã nhanh chóng theo và bảo vệ học thuyết của Lavoisier, thí dụ như Claude Berthollet, Louis Guyton de Morveau, Antoine de Fourcroy..

    Lược dịch từ Pour la Science No 336-10/2005 - Tạp chí Tia Sáng

Chia sẻ trang này